Đánh người có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ? trong trường hợp nào sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

ĐÁNH NGƯỜI CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ KHÔNG ?
 
 Câu hỏi

Tôi cố ý gây thương tích bị xử lý thế nào ?

Chào bạn !

Vấn đề này của bạn Luật Nam Long & Cộng sự xin được tư vấn cho bạn như sau:
Theo quy định Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009), hành vi đánh người sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 104 như sau:
Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Có tổ chức;
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.
Những trường hợp sau đây sẽ không bị truy cứu tránh nhiệm hình sự:
  • Không đủ một trong các yếu tố cấu thành tội phạm như:
+)  Khách thể tội phạm: hành vi đánh người mà tỉ lệ thương tích chưa đạt đến 11% và thuộc một trong các trường hợp được quy định từ Điểm a đến Điểm K Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự;
+) Chủ thể tội phạm: Người thực hiện hành vi đánh người không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự:
1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
2. Người phạm tội  trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
+) Khách quan của tội phạm: hành vi đánh người cũng sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu như thuộc các trường hợp sau:
  • Sự cố bất ngờ theo quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự:
“Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”.
  • Phòng vệ chính đáng theo quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự:
“1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả  rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự”.
  • Tình thế cấp thiết theo quy định tại Điều 16 Bộ luật hình sự:
“1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Hành  vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm”.
2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.”
Tuy nhiên theo Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) thì những trường hợp cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 Điều 104 nói trên chỉ bị xử lý hình sự khi có yêu cầu của người bị hại. Theo đó thì nếu như các trường hợp đánh người mà thuộc Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự mà người bị hại không yêu cầu truy cưu trách nhiệm hình sự thì bạn cũng sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

 
Để được tư vấn trực tiếp, Quý khách vui lòng liên hệ:
 
+ Cách 1: Khách hàng gọi  0989.888.227 để được hướng dẫn chi tiết.
 
+ Cách 2: Khách hàng điền đầy đủ thông tin ở cuối bài viết. Chúng tôi sẽ liên hệ lại khi nhận được yêu cầu.
Từ khóa: Cố ý gây thương tích, gây thương tích thì bị sử lý như thế nào?, gấy thương tích, luật sư Nguyễn Huy Long, Luật sư Châu Thành Nam, Công ty luật Nam Long và cộng sự.

Liên hệ - dịch vụ

Tên:
Số điện thoại:
Email:
Tiêu đề:
Dịch vụ:
Nội dung:
Captcha:    
renew capcha
 

Tin liên quan

người chưa thành niên theo quy định của pháp luật hình sự thì tùy từng đối tượng mà có các chế độ khác nhau đối với mỗi người, nên người chưa thành nên phạm tội cũng phải tuân theo một trình tư thủ tục nhất định.
Người chưa thành niên là người chưa đủ năng lực hành vi dân sự, tuy nhiên không phải mọi tội đối với người chưa thành niên vi phạm đều không bị truy cứi trách nhiệm hình sự mà tuy từng mức độ và hình thức phạm tội mà áp dụng việc truy cứi trách nhiệm hình sự sao cho hợp lý
Án treo là một chế định đặc biệt về chấp hành hình phạt tù và được quy định cụ thể tại Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao.